Báo cáo Tổng hợp ý kiến xây dựng Luật Hải quan (sửa đổi)

Thứ tư - 22/03/2017 04:45

BÁO CÁO

Tổng hợp ý kiến xây dựng Luật Hải quan (sửa đổi)

Kính gửi: Văn phòng Quốc hội.

Thực hiện công văn của Văn phòng Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị đã tổ chức hội nghị để thảo luận đóng góp ý kiến, đồng thời gửi dự thảo đến các cơ quan liên quan để lấy ý kiến đóng góp về dự thảo Luật Hải quan (sửa đổi).

Sau đây là tổng hợp ý kiến thảo luận tại Đoàn về dự án Luật nói trên.

1. Những vấn đề chung:

Qua nghiên cứu dự thảo luật Hải quan (sửa đổi), nhiều đại biểu cho rằng dự thảo đã thay đổi căn bản phương thức thực hiện thủ tuc hải quan, từ phương thức truyền thống, bán điện tử sang phương thức điện tử. Các quy định về địa điểm làm thủ tục hải quan (Điều 21), hồ sơ hải quan (Điều 23), thời hạn nộp hồ sơ hải quan (Điều 24), đăng ký tờ khai hải quan (Điều 29) cũng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thủ tục hải quan điện tử.

Để đồng bộ với các quy định về thủ tục hải quan điện tử, dự thảo luật Hải quan (sửa đổi) còn bổ sung, sửa đổi từ Điều 45 đến điều 73 liên quan đến thủ tục hải quan cho các loại hình đối với hàng gia công, nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu, chế xuất; một số loại hình tạm xuất khẩu, tạm nhập khẩu...nhằm đảm bảo tính minh bạch và triển khai hiệu quả các ứng dụng công nghệ thông tin để hiện đại hóa chế độ quản lý hải quan và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan.

Bên cạnh đó, dự thảo Luật tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính về hải quan như: Giảm các chứng từ tại bộ hồ sơ hải quan, quy định rõ thời hạn làm thủ tục hải quan, giảm thời gian kiểm tra thực tế hàng hóa. Cùng với đó, dự thảo luật Hải quan (sửa đổi) cũng áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro trong kiểm tra, giám sát hải quan; có chế độ ưu tiên, tạo thuận lợi về thủ tục hải quan cho doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện (Điều 17, Điều 38, Điều 40) và bổ sung cơ chế xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan (Điều 27) sẽ tạo cơ sở pháp luật để cơ quan Hải quan thực hiện, tạo thuận lợi thương mại, giúp doanh nghiệp chủ động xác định trước về nghĩa vụ thuế đối với hàng hóa dự kiến nhập khẩu...

Tuy nhiên, dự thảo luật Hải quan (sửa đổi) vẫn còn một số điểm hạn chế, cụ thể là dự thảo luật còn có nhiều điều quy định chung chung, trao nhiều quyền cho các văn bản dưới Luật, một số điều quy định còn thiếu các tiêu chí xác định cụ thể, trao nhiều quyền vận dụng và suy đoán cho cán bộ cơ quan nhà nước.

2. Những vấn đề cụ thể:

- Điều 13. Hệ thống tổ chức hải quan

Có ý kiến cho rằng, theo Luật Hải quan hiện hành, hệ thống tổ chức bộ máy của ngành Hải quan gồm 3 cấp: Tổng cục Hải quan; Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Chi cục Hải quan cửa khẩu, Đội Kiểm soát hải quan và đơn vị tương đương. Mô hình tổ chức bộ máy hiện hành đang bộc lộ một số hạn chế, khó khăn như: tổ chức, bộ máy chưa gắn với yêu cầu, khối lượng công việc.

Do vậy, tại Điều 13 dự thảo Luật về hệ thống tổ chức hải quan nên bỏ cụm từ “tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương”; theo đó, hệ thống tổ chức hải quan quy định có tính nguyên tắc chung như sau:

“Hệ thống tổ chức của Hải quan Việt Nam gồm có:

- Tổng cục Hải quan;

- Cục Hải quan;

- Chi cục Hải quan, Đội kiểm soát hải quan và đơn vị tương đương”.

Quy định hệ thống tổ chức của Hải quan theo hướng này sẽ tạo điều kiện để bảo đảm hiệu quả trong việc bố trí nguồn nhân lực, vật lực; phù hợp với yêu cầu quản lý hải quan, khắc phục được những hạn chế đặt ra hiện nay. Hệ thống tổ chức của Hải quan vẫn được xây dựng theo nguyên tắc quản lý ngành và theo lãnh thổ nhưng căn cứ vào yêu cầu công việc; quy mô, tính chất hoạt động xuất nhập khẩu; đặc thù địa bàn, điều kiện kinh tế xã hội. Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ quy định việc thành lập, tổ chức lại Cục Hải quan căn cứ vào yêu cầu, khối lượng công việc, quy mô, tính chất hoạt động xuất nhập khẩu, đặc thù địa bàn, điều kiện kinh tế xã hội.

- Điều 17. Quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan

Tại khoản 2 Dự thảo luật quy định: “Người khai hải quan là chủ hàng hóa, chủ phương tiện vận tải có nghĩa vụ”...

Có ý kiến đề nghị bỏ cụm từ “là chủ hàng hóa, chủ phương tiện” vì tại khoản 6, Điều 4 (giải thích từ ngữ) đã giải thích rõ:

“Người khai hải quan bao gồm chủ hàng hoá, chủ phương tiện vận tải, người điều khiển phương tiện vận tải hoặc đại lý làm thủ tục hải quan, người khác được chủ hàng hoá, chủ phương tiện vận tải uỷ quyền thực hiện thủ tục hải quan”.

Cũng theo ý kiến này, đề nghị bỏ quy định tại khoản 3 vì thực chất khoản này muốn phân biệt người khai hải quan là “chính chủ” hay là người được ủy quyền. Theo nguyên tắc, người được ủy quyền làm thủ tục hải quan cũng phải hội đủ các điều kiện mới được cơ quan làm thủ tục hải quan chấp nhận. Còn phạm vi ủy quyền đến đâu không liên quan đến việc làm thủ tục hải quan.

Vì vậy, tại khoản 2 chỉ cần quy định : “Người khai hải quan có nghĩa vụ”... là đã đầy đủ.

- Điều 22. Thời hạn cơ quan hải quan làm thủ tục hải quan

Tại khoản 3, nhiều ý kiến nhất trí quy định về thời gian hoàn thành việc kiểm tra hồ sơ chậm nhất là 02 giờ làm việc, kể từ thời điểm cơ quan hải quan tiếp nhận đầy đủ hồ sơ hải quan và hoàn thành việc kiểm tra thực tế hàng hoá chậm nhất là 08 giờ làm việc.

Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng nên quy định cụ thể hơn về thời hạn thực hiện thủ tục hải quan trong trường hợp công việc phát sinh ngoài giờ làm việc, ngày nghỉ, ngày lễ.

Do hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu diễn ra liên tục nên nếu phải đợi kết quả phản hồi từ cơ quan hải quan sau ngày nghỉ thì việc lưu thông hàng hóa sẽ bị chậm trễ, gây khó khăn cho doanh nghiệp. Vì vậy, Dự thảo Luật nên bổ sung quy định này nhằm tạo điều kiện cho người khai hải quan được thuận lợi, minh bạch, rõ ràng, tránh để công chức hải quan lợi dụng.

- Điều 23. Hồ sơ hải quan

Tại điểm a khoản 1, đã nêu “tờ khai hải quan hoặc các chứng từ thay thế tờ khai hải quan”, có ý kiến cho rằng nên quy định cụ thể các chứng từ thay thế tờ khai là chứng từ gì vì ngay trong các văn bản dưới luật hướng dẫn về hồ sơ hải quan như Nghị định 154/2005/NĐ-CP và thông tư 194/2010/TT-BTC cũng chỉ nêu là “chứng từ khác” chứ không nói cụ thể đó là các chứng từ gì. Để xác định được “chứng từ khác” là gì các doanh nghiệp Xuất nhập khẩu phải tra cứu nhiều văn bản liên quan đến nhiều Bộ, ngành, nhiều khi còn chồng chéo nhau. Khuyến nghị cần có một văn bản chung cấp Chính phủ, quy định chính sách và chế độ đối với các loại hàng hóa xuất nhập khẩu theo hướng chuẩn hóa các yêu cầu điều kiện.

Bên cạnh đó có ý kiến cho rằng cần quy định ngay trong Luật về “các chứng từ thay thế tờ khai hải quan” như thế sẽ tránh được tình trạng khi ban hành luật không thi hành được ngay mà phải đợi các văn bản hướng dẫn dưới luật.

- Điều 29. Đăng ký tờ khai hải quan

Tại khoản 3, có ý kiến cho rằng dự thảo quy định: “Trường hợp không chấp nhận đăng ký tờ khai hải quan, cơ quan hải quan thông báo lý do bằng văn bản giấy hoặc qua phương thức điện tử cho người khai hải quan biết” có thể gây khó khăn cho doanh nghiệp và tạo ra kẽ hở cho tình trạng tham nhũng. Quy định như trên chưa đưa ra rõ các trường hợp mà cơ quan hải quan không chấp nhận đăng ký tờ khai hải quan, không đưa ra các tiêu chí để các văn bản hướng dẫn quy định chi tiết. Việc thiếu rõ ràng trong quy định này có thể gây ra sự lạm quyền của cán bộ hải quan khi thực hiện nhiệm vụ, gây cản trở hoạt động của doanh nghiệp.

Trên đây là tổng hợp ý kiến của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị về dự án Luật Hải quan (sửa đổi), kính đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội nghiên cứu tiếp thu.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây