Đại biểu Quốc hội thảo luận về tái cơ cấu nền kinh tế và ngân hàng

Thứ tư - 22/03/2017 04:53
Theo chương trình của kỳ họp thứ 8, ngày 01/11/2014, Quốc hội dành trọn 1 ngày để nghe và thảo luận Báo cáo của Ủy ban thường vụ Quốc hội về kết quả giám sát việc thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế trong lĩnh vực đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước và hệ thống ngân hàng theo Nghị quyết số 10/2011/QH13 của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015.
Ông Hà Sỹ Đồng, phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh đã tham gia thảo luận. Sau đây là lược ghi phát biểu của ông Hà Sỹ Đồng.
Ông Hà Sỹ Đồng, phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh đã tham gia thảo luận. Sau đây là lược ghi phát biểu của ông Hà Sỹ Đồng.

Trong các phiên thảo luận của hai kỳ họp Quốc hội trước, tôi đều đề cập đến yêu cầu cấp thiết phải cải cách thể chế để vừa phát triển đất nước bền vững vừa bảo vệ vững chắc chủ quyền Quốc gia.

Bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam như đã được thảo luận trong gần 2 ngày qua cho thấy một sự thực là: mặc dù Chính phủ đã có nhiều nỗ lực nhưng các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô để Chính phủ quản lý và điều hành kinh tế như chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, các chính sách khuyến khích đầu tư hoặc đang suy giảm hiệu lực hoặc đã cạn kiệt dư địa hay không còn đủ sức hấp dẫn. Hệ lụy không thể tránh khỏi là vấn đề “tiền tệ hóa bội chi ngân sách” vốn xấu lại thêm xấu hơn. Và các hoạt động huy động, khai thác, phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế trở nên méo mó, kém hiệu quả. Một vòng luẩn quẩn, thụ động, tình thế “thắt chặt hay mở rộng”, “thu hẹp hay bành trướng” lại tiếp diễn và có vẻ không có hồi kết.

Thực trạng này tạo thêm sức ép buộc Chính phủ phải triển khai quyết liệt, có hiệu quả 3 đột phá chiến lược để thúc đẩy tiến trình tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng nhằm tạo động lực phát triển mới.

Các nỗ lực tái cấu trúc trong nước đang bị dồn nén cùng với sức ép cải cách đến từ tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực gia tăng, cũng đòi hỏi chúng ta nhất thiết phải sớm có sự đột phá về thể chế.

Tại kỳ họp trước, nhiều ý kiến cũng đề cập đến cơ hội khi Việt nam đang đứng trước ngưỡng của Hiệp định thương mại tự do với các đối tác lớn trên thế giới. Song cũng cần phải lường đến nguy cơ áp lực hội nhập kinh tế quốc tế tiếp tục không chuyển hóa thành động lực thúc đẩy cải cách trong nước, cơ hội không xuất hiện mà thay vào đó là những thách thức hiện hữu gây chèn ép, o bế kinh tế nội địa nếu như tâm thế chúng ta chưa thực sự sẵn sàng cho hội nhập.

Những bài học đắt giá cho giai đoạn gia nhập WTO như sự ra đời ồ ạt các tập đoàn kinh tế nhà nước, các tập đoàn tài chính; Việc nâng nhanh mức vốn pháp định các tổ chức tín dụng một cách nóng vội, duy ý chí, dòng vốn nước ngoài dồn dập vào Việt nam và sự hình thành những bong bóng bất động sản, chứng khoán khi nội lực nền kinh tế chưa có khả năng hấp thụ nhiều vốn; rồi bất ổn kinh tế vĩ mô dai dẳng… vẫn còn nguyên tính thời sự.

Rõ ràng, những trì hoãn, níu kéo cải cách do vấn đề lợi ích cục bộ, lợi ích cá nhân hay lo ngại trách nhiệm, muốn ẩn nấp vào “vùng an toàn” hay việc khu vực kinh tế nhà nước chưa thực sự bị đặt vào bối cảnh cạnh tranh do tiếp tục được Nhà nước bảo hộ trên nhiều phương diện, cả công khai lẫn ngầm định sẽ đưa lại hậu quả khó lường.

Sự thực, thể chế hiện hành chưa đủ khả năng bảo vệ cũng như hỗ trợ tích cực cho các doanh nhiệp trong nước chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.

Ở kiến nghị thứ 2 trong Báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế của UBTVQH có nêu: “kiểm soát mức lạm phát hàng năm không quá thấp để tạo điều kiện cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, giải quyết việc làm”, tôi đồng tình cao với đề xuất đó. Điều này phù hợp với mục tiêu tổng quát được đề cập trong Báo cáo của Chính phủ, phần kế hoạch phát triển KT-XH 2015. Ở đó đã thôi không xuất hiện cụm từ “kiểm soát lạm phát” và bắt đầu nhấn trở lại “tăng trưởng kinh tế cao hơn và vững chắc hơn”, tuy nhiên trên cơ sở “cải cách lần 2” nhằm giải quyết cái gốc của vấn đề kinh tế Việt Nam là “năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh”.

Nhưng cũng cần lưu ý để tránh hiểu lầm trong triển khai thực hiện, cụ thể là quay lại “vết xe đổ” - đánh đổi lạm phát lấy tăng trưởng cao và nhanh.

Muốn vậy, cần phải có một thể chế hay một khuôn khổ mới để Chính phủ điều hành hướng tới mục tiêu tổng quát đó. Cụ thể, trên cơ sở kiên định chủ trương ổn định kinh tế vĩ mô, Chính phủ ngầm định theo đuổi lạm phát mục tiêu như hiện nay nhưng cần có thêm mức tối thiểu nhằm tạo một hành lang an toàn, tin cậy và cho phép được sử dụng linh hoạt các công cụ chính sách để đạt tới nhiều mục tiêu vĩ mô khác nhau. Chẳng hạn, với năm 2015, Chính phủ có thể ngầm định khung lạm phát mục tiêu là 5% cộng trừ 1,5% (tức hướng tới mức 5% và được phép sai lệch cao hơn hoặc thấp hơn trong khoảng cộng trừ 1,5%). Và NHNN sẽ phải điều hành chính sách tiền tệ sao cho đạt được mục tiêu ưu tiên số 1 này (tất nhiên có sự phối hợp của các bộ ngành liên quan, trước hết là Bộ Tài chính).

Như vậy, cần thiết xác định thêm mức sàn cho lạm phát. Nói cách khác, điều cần theo đuổi là giữ cho lạm phát ổn định ở mức vừa đủ thấp (tức tránh để lạm phát dao động lớn và không thể dự tính được), nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh, từ đó giúp kinh tế tăng trưởng ổn định, bền vững.

Chủ trương sẽ công khai theo đuổi một mức lạm phát mục tiêu ổn định trong trung hạn chính là tạo niềm tin cũng như thêm dư địa cho các chính sách kinh tế nhằm đạt tới các mục tiêu vĩ mô khác như tăng trưởng kinh tế, việc làm và thu nhập, …

Thể chế phối hợp các chính sách kinh tế vĩ mô chắc chắn sẽ là một nội hàm quan trọng trong cải cách thể chế kinh tế nói chung, tạo đột phá chiến lược để thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế.

Từ kỳ họp thứ 7, sự đe dọa của nợ công đến an ninh tài chính quốc gia đã được cảnh báo. Ở đây, tôi muốn nhấn mạnh về nguy cơ lan truyền từ vấn đề “nợ công” sang thành vấn đề của “ngành ngân hàng” rồi nhanh chóng chuyển thành vấn đề của toàn nền kinh tế khi mà “bình thông nhau” giữa tài khóa và tiền tệ vẫn hiện hữu. Đây là một rủi ro vĩ mô giống như nguy cơ bong bong bất động sản, chứng khoán thời 2006-2008, nhưng đã không được cảnh báo kịp thời và đủ mức mạnh cần thiết.

Để ngăn chặn hoặc giảm thiểu rủi ro này, bên cạnh nhóm giải pháp có tính căn cơ, dài hạn khác, Chính phủ cần thiết phải xây dựng một khuôn khổ thể chế chính thức cho sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ hướng tới các mục tiêu kinh tế vĩ mô chung, bảo đảm vận hành hiệu quả. Khuôn khổ này bao gồm mục tiêu phối hợp, các công cụ phối hợp, các quy tắc phối hợp hay những ràng buộc định hình sự tương tác giữa các bên phối hợp.

Thực tế những năm qua cho thấy, sự phối hợp giữa hai chính sách này thường lỏng lẻo, rời rạc, đôi khi xung đột, triệt tiêu nhau. Các câu hỏi như: phối hợp giữa các công cụ gì? với liều lượng nào? vào thời điểm nào? trong bao lâu? thực thi và giám sát thực thi phối hợp ra sao? các chỉ báo đo lường hiệu quả phối hợp? …. Chưa bao giờ có câu trả lời thỏa đáng.

Hơn ai hết, ngay tại kỳ họp này, Quốc hội và Chính phủ phải có quyết sách đủ mạnh để ngăn chặn hoặc giảm thiểu những nguy cơ thách thức trên để tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế có thể chuyển biến mạnh mẽ như Nghị quyết của Quốc hội đề ra.

 

Tác giả bài viết: Phạm Hồng Nam (Lược ghi) 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây